Sửa đổi, bổ sung Quy định về xử lý lấn, chiếm đất đai

In PDF.

Ngày 14/9/2011, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 29/2011/QĐ-UBND về việc Sửa đổi, bổ sung Quy định về xử lý lấn, chiếm đất đai; đất đã được giao không đúng thẩm quyền, thu tiền không đúng quy định và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đủ điều kiện tiếp tục sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh.

Căn cứ Nghị định số 120/2010/NĐ-CP, ngày 30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 198/2004/NĐ-CP; Căn cứ Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 18/3/2008, của UBND tỉnh Ban hành Quy định về xử lý lấn, chiếm đất đai; đất đã được giao  không đúng thẩm quyền, thu tiền không đúng quy định và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đủ điều kiện tiếp tục sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh; Xét đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại văn bản số 1860/STNMT-QLĐĐ ngày 01/9/2011. Theo đó, Sửa đổi, bổ sung Quy định về xử lý lấn, chiếm đất đai; đất đã được giao không đúng thẩm quyền, thu tiền không đúng quy định và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp đủ điều kiện tiếp tục sử dụng đất ở trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 18/3/2008, như sau:

1. Sửa đổi khoản 1, Điều 7 như sau:

Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng có nguồn gốc do lấn, chiếm đất đai, nhưng đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm tại Điều 5 của Quy định này, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xử lý như sau:

“1. Tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất thuộc vùng đã có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được phê duyệt mà việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đó và chưa có quyết định thu hồi đất (trong trường hợp đất phải thu hồi) thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp đất có nhà ở thì người sử dụng đất nộp tiền sử dụng đất bằng 50% giá đất ở do UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm đối với phần diện tích đất trong hạn mức đất ở giao mới trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 52/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh; đối với diện tích đất ở ngoài hạn mức nộp bằng 100% tiền sử dụng đất ở do UBND tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp đất có công trình xây dựng (không phải là nhà ở) thì phải xác định diện tích đất phi nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng đất. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất phi nông nghiệp. Đối với phần diện tích đất được xác định là đất nông nghiệp thì thực hiện theo quy định tại Điều 8 của Quy định này”.

2. Sửa đổi khoản 1, khoản 2, Điều 9 như sau:

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong khỏang thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và không thuộc một trong các trường hợp vi phạm tại Điều 5 của Quy định này, nay được UBND cấp xã xác nhận đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt hoặc chưa có quy hoạch được phê duyệt tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở thì phải nộp tiền sử dụng đất bằng 100% theo giá đất ở do UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở mới cho mỗi hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Quyết định số 52/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh; đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở nộp bằng 100% tiền sử dụng đất ở do UBND tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có công trình xây dựng (không phải là nhà ở) thì phải xác định diện tích đất phi nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng. Người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đó với diện tích đất phi nông nghiệp theo mức quy định tại điểm a khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP (cụ thể nộp 50%); giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp cùng loại được UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm”.

3. Sửa đổi điểm b, khoản 2, Điều 11 như sau:

“b. Đối với diện tích đất làm nhà ở trong hạn mức đất ở quy định tại Quyết định số 52/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất; diện tích đất ngoài hạn mức quy định, nhưng đã có nhà ở thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp bằng 100% tiền sử dụng đất do UBND tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đối với diện tích còn lại không có nhà ở được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức quy định tại khỏan 2, Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP (cụ thể nộp tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp)”.

4. Sửa đổi khoản 1, Điều 12 như sau:

“1. Đối với những trường hợp vi phạm trước ngày 01/7/2004:

Hộ gia đình, cá nhân đã có nơi ở hợp pháp, thì buộc phải tháo dỡ công trình và chuyển đến nơi ở đó. Nhà nước không giao đất ở mới và không bồi thường, hỗ trợ bất cứ khoản tiền nào. Những hộ gia đình, cá nhân không có nơi ở hợp pháp (ngoài nơi lấn, chiếm), thì UBND các huyện, thành phố tiến hành quy hoạch khu dân cư trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để giao đất ở cho những đối tượng này và phải nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định hiện hành.

Trường hợp hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc, hộ chính sách không có điều kiện xây dựng nhà ở, thì UBND huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn hỗ trợ một phần kinh phí và vận động quyên góp từ các nhà hảo tâm, cộng đồng dân cư, dòng họ cùng hỗ trợ kinh phí để những hộ này có điều kiện xây dựng nhà ở mới. Đối với những hộ gia đình, cá nhân thuộc diện chính sách mà từ trước đến nay chưa được Nhà nước hỗ trợ tiền sử dụng đất, thì thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định hiện hành”.

5. Sửa đổi khoản 1, khoản 2, khoản 3, Điều 14 như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đã nộp đủ tiền sử dụng đất, kể cả trường hợp chứng từ ghi dưới hình thức nộp tiền ủng hộ địa phương (có chứng từ chứng minh) theo giá đất tại thời điểm giao đất, nay đất sử dụng phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì không tính lại tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm hiện nay.

2. Đối với những trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nộp tiền để được giao đất, kể cả trường hợp chứng từ ghi dưới hình thức nộp tiền ủng hộ địa phương nhưng do thất lạc hồ sơ, chứng từ không có cơ sở kiểm tra, thì UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm kiểm tra, lập danh sách trình Hội đồng tư vấn đất đai của xã, phường, thị trấn thống nhất trình UBND huyện, thành phố xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. 

3. Các trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã nộp tiền, kể cả các trường hợp chứng từ ghi dưới hình thức nộp tiền ủng hộ địa phương nhưng chưa đủ với số tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm giao đất, thì nay cho phép quy đổi số tiền đã nộp tương ứng với diện tích đất (m2 đất) được giao theo giá đất tại thời điểm giao đất, số diện tích đất còn lại, thì nay phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% giá đất do UBND tỉnh ban hành và công bố hàng năm đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới ban hành kèm theo Quyết định số 52/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh; đối với phần diện tích đất ngoài hạn mức giao đất ở nộp bằng 100% tiền sử dụng đất do UBND tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

5. Sửa đổi Điều 16 như sau:

“ Hộ nghèo; hộ đồng bào dân tộc; hộ chính sách; hộ gia đình, cá nhân hiện đang ở trên thửa đất lấn chiếm, thửa đất được giao không đúng thẩm quyền mà không có chỗ ở hợp pháp nào khác trên địa bàn huyện, thành phố, có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất thì được ghi “nợ tiền sử dụng đất” trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi thanh toán nợ, người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả nợ dần khi có khả năng về tài chính trong thời hạn tối đa là 5 năm; sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm trả nợ

Đối với trường hợp đã được ghi nợ tiền sử dụng đất trước ngày 01 thàng 3 năm 2011 mà chưa thanh toán nợ thì nay được áp dụng quy định về thanh toán nợ theo quy định tại Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ; trong thời hạn tối đa là 5 năm kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, người sử dụng đất được thanh toán nợ tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm trả nợ”.

7. Bổ sung Điều 16a như sau:

1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã kê khai và nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 3 năm 2011, thì áp dụng thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật trước ngày Nghị định số 120/2010/CĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.

2. Từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, việc xác định diện tích trong hạn mức để tính tiền sử dụng đất đối với các trường hợp lấn, chiếm đất đai; đất đã được giao không đúng thẩm quyền, thu tiền không đúng quy định chỉ được tính cho một thửa đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất; hộ gia đình, cá nhân được lựa chọn một thửa đất để xác định diện tích trong hạn mức.

 Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký. Quyết định này thay thế Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND ngày 7/10/2010 của UBND tỉnh.

 

 

                                     TT

VP UBND tỉnh Bình Định